7. Nô bộc: vị trí là cung Địa các. Địa các nảy nở, tròn đầy, tươi là người có nhiều người giúp việc, nhiều người giúp đỡ. Địa các vát: người giúp việc và đầy tớ hay giở mặt. Có nốt ruồi, vết sẹo: hay bị người khác lợi dụng, bị lừa. Địa các nảy nở, triều về mũi: hay được quý nhân giúp đỡ hoặc có khả năng giúp đỡ người khác.
8. Thê: vị trí ở gian môn (cạnh đuôi 2 con mắt). Bằng, sáng sủa, quang nhuận: lấy được vợ có tứ đức. Đầy đặn, bằng phẳng, có sắc vàng nhuận (là màu vàng nhạt tươi chứ vàng ám là hỏng): lấy được vợ giàu hoặc lấy vợ xong thì giàu. Hai lưỡng quyền chạy ra 2 bên góc trán: được hưởng lộc nhà vợ, nhờ vợ có lộc. Gian môn khuyết hãm, có khí sắc ám: bỏ vợ nhiều lần. nếu có nhiều vết đoạn văn thì vợ hay bị ác tử (vợ có thể tự treo cổ), có văn xéo thì vợ hay ngoại tình. Nếu gian môn nổi cao quá thì là người có tình dục quá mạnh. Gian môn phẳng, thấp, khí sắc sáng sủa: có tính dâm ngầm. Gian môn ám hãm: vợ chồng suốt ngày bất hòa. Tuy nhiên đa phần phải xem thêm mắt: có hung quang hay có tia máu đỏ: là sắp có cãi nhau.

9. Cung Phúc đức: có 2 cung Phúc đức.
9.1. Phúc đức của Tiên thiên: Vị trí nằm cuối đuôi lông mày sát bìa trán. Nếu sáng vượng bằng phẳng kết hợp với mắt và lông mày tốt thì người đó xuất thân trong một gia đình dòng họ danh giá và được thụ hưởng gia di sản của tiền nhân để lại. Nếu có Tam đình bình ổn, Ngũ nhạc triều qui thì được thừa hưởng tố chất của dòng họ, có khả năng phát triển tốt và được hưởng phú quí lâu dài. Nếu cung Phúc đức khuyết hãm hoặc lệch (2 bên không bằng nhau), tai bạt (luân quách không có) là người suốt đời bần khổ, gia cảnh bất lợi, hay lang bạt kỳ hồ; kết hợp thêm mắt mờ vô thần lờ đờ: đa phần là người nghiện ngập, đề đóm, cờ bạc, bất hảo.
9.2. Phúc đức hiện tại: nằm sát bìa khuôn mặt, từ dái tai chạy xuống dưới địa các (gần như cả vùng), bìa dưới khuôn mặt. Là kết quả của sự nỗ lực cá nhân tác động đến khách quan và những thành công hoặc những lợi lộc được khách quan mang lại. Cần đầy đặn (mặt dài không bị khuyết) không bị lẹm (cằm không được mỏng quá), không có nốt ruồi từ khí, khí sắc sáng sủa; + ngũ quan đoan chính là người thông minh hào sảng, hay giúp đỡ người khác và hay động lòng trắc ẩn với cảnh khổ của người khác. Nếu cung Phúc đức ám hãm hoặc cằm lẹm: sống cô độc, vị kỷ, ích kỷ chỉ vì mình; + ngũ quan không đoan chính là người tráo trở, nếu có tử khí là vợ chồng hay bỏ nhau, cuộc sống vợ chồng ít khi hòa hợp.
10. Cung Phụ mẫu: Vị trí nằm trên cung Phúc đức và Dịch mã. Còn gọi là nhật nguyệt giác. Nhật: trán bên trái, liên quan đến Thiên trung – Cha; Nguyệt: trán bên phải, liên quan đến Thiên đình – Mẹ. Cần đầy đặn, cao, cân xứng, đều nhau, không có bên to bên bé. Nếu thêm lông mày đẹp thì người này được hưởng sự chăm sóc của bố mẹ, phụ mẫu thành đạt, có gia thế (có học thức, có lối sống đạo đức thanh cao, gia đình được XH nể trọng thì gọi là có gia thế chứ không cứ làm quan....). Khuyết hãm, lệch: bố mẹ xung khắc, không được hưởng sự chăm sóc tử tế của bố mẹ hay bố mẹ nói không nghe.
11. Cung Thiên di: (cung Dịch mã). Vị trí nằm ngay sát cạnh cung Phúc đức, sát bìa trán trên lông mày một tý. Biểu thị sự dịch chuyển, điều kiện xã hội. Nếu bằng, sáng sủa thì đi xa làm ăn có lợi. Nếu 2 đuôi mắt đẹp, sáng nhuận thì con người này suốt đời sung sướng, được ngao du khắp nơi. Thiên di khuyết hãm, lệch: đi xa bất lợi, điều kiện xã hội cũng bị hạn chế.
12. Cung Tật ách: Vị trí nằm ở Niên thượng Thọ thượng và 2 bên chân sống mũi. Cần tròn, cao, đầy đặn (phong mãn), sáng nhuận là người suốt đời không bị ác tật, chứng bệnh nan y hoặc có vướng bệnh tật tai họa cũng vượt qua được do cơ thể cường tráng. Nếu nhỏ là cơ thể bạc nhược, sức chịu đựng kém: dễ vướng bệnh tật hay dễ nhiễm bệnh; khí lực kém nên rất ngại làm những việc lâu dài, gặp vận hạn tai ách dễ buông xuôi, không vượt lên. Niên thượng, Thọ thượng khí sắc tối ám là báo hiệu bệnh tật, nếu da thường xuyên ảm đạm hơn các vùng khác là trong người luôn có bệnh mãn tính hay bệnh tật khác. Niên thượng, Thọ thượng có nốt ruồi tử khí + mắt vô thần là hay bị tù ngục. Niên thượng, Thọ thượng có nốt ruồi tử khí + mắt đào hoa nhãn là biểu hiện dâm tính hay vướng tai họa vì đàn bà và ngược lại đàn bà cũng bị vướng tai họa vì đàn ông.
13. Cung Tướng mệnh: Là tổng luận của 12 cung trên. Tam đình phải bình ổn (cao bằng và ổn định); Ngũ nhạc triều quy; Ngũ quan đoan chính (thẳng thắn, không thiên lệch) và minh lượng (sáng sủa). Tướng pháp yêu cầu phải cân đối. Nếu có sự sai lệch trong bộ vị thì vẫn có thể thành công nhưng nhân cách chắc chắn có vấn đề.





